Cha đẻ bị lãng quên của bóng đá hiện đại
Việt Cường

Chia sẻ

Bình luận 1

Nếu bạn chưa từng nghe tới tên Viktor Maslov hoặc chỉ nghe qua mà không thấy ấn tượng gì, thì đó không phải là lỗi của bạn. Đó là sự phũ phàng của cát bụi thời gian.

Khi nói đến những HLV huyền thoại của bóng đá thế giới, chúng ta thường nghĩ ngay tới những người như Sir Alf Ramsey (Anh), Rinus Michel (Hà Lan), Helenio Herrera (Argentina), Arrigo Sacchi (Italia) hay Valeriy Lobanovski (Ukraine).

Tên tuổi của họ được nhắc đến mãi không chỉ vì những thành tích họ đã đạt được, mà còn vì những di sản mà họ để lại. Những HLV ấy đều được xem như những nhà tiên phong.
Nhưng còn một cái tên khác, rất ít khi được nhắc đến, có thể xem như nhà tiên phong của những nhà tiên phong.

Đó là người đã sử dụng sơ đồ 4-4-2 nhiều năm trước khi Sir Alf Ramsey tuyên bố ông là người “sáng tạo” ra sơ đồ này khi cùng đội tuyển Anh đăng quang chức vô địch World Cup 1966.

Đó là người đã cho dẹp bỏ khái niệm “vị trí” theo nghĩa truyền thống và yêu cầu các cầu thủ liên tục di chuyển để lấp vào các khoảng trống mà đồng đội của họ bỏ lại trên sân, nhiều năm trước khi Rinus Michel khiến cả thế giới ngất ngây với cái gọi là Total Voetball.

Đó là người đề cao tuyệt đối sức mạnh của hệ thống trong một thời đại mà người ta vẫn tôn sùng những pha xử lý cá nhân, song vẫn biết cách tạo điều kiện cho những cá nhân xuất sắc nhất tỏa sáng, hàng chục năm trước khi Sacchi biến Milan thành thế lực số 1 ở châu Âu.

Đó là người đầu tiên áp dụng chiến thuật pressing trong bóng đá. Với hành động ấy, ông đã thay đổi hoàn toàn bóng đá thế giới. Trước khi có ông, các cầu thủ thường có rất nhiều thời gian và khoảng trống để xử lý bóng. Sau khi có ông, bóng đá trở thành một cuộc chạy đua không ngừng về tốc độ và sức mạnh.
Ông là Viktor Maslov. Nếu bạn chưa từng nghe tới tên ông hoặc chỉ nghe qua mà không thấy ấn tượng gì, thì đó không phải là lỗi của bạn. Đó là sự phũ phàng của cát bụi thời gian.

Sơ lược về tiểu của của Maslov: Ông sinh năm 1910 ở Nga, trong không khí ngột ngạt của hai cuộc chiến tranh lớn là Đại chiến thế giới và nội chiến Nga. Trước khi khởi nghiệp HLV, Maslov đã trải qua những năm tháng không quá nổi bật nhưng ổn định trong vai trò một tiền vệ ở Torpedo. Ông từng làm đội trưởng của đội bóng này trong 3 năm, từ 1936 tới 1939, trước khi giải nghệ vào năm 1942, ở tuổi 32.

Ngay từ khi còn là cầu thủ, Maslov đã mơ về một ngày được đứng bên đường piste chỉ đạo. Và giấc mơ của ông trở thành hiện thực không lâu sau khi ông treo giày, với một lời mời từ Torpedo. Tuy nhiên, sau 6 năm không mấy ấn tượng, ông bị sa thải, và lang thang qua 3 đội bóng khác trong 6 năm tiếp theo. Phải tới năm 1957, khi Torpedo quyết định mời lại Maslov, thì sự nghiệp của ông mới có bước chuyển biến đáng kể.

Trong 4 năm của nhiệm kỳ 2 với Torpedo, Maslov 2 lần đưa đội bóng này tới ngôi Á quân, và 1 lần vô địch. Nhưng điều đáng nói nhất về giai đoạn này là chính những thành công ở Torpedo đã đưa Maslov tới Dynamo Kiev, nơi những phát kiến mang tính “cách mạng” của ông thực sự đâm chồi, nảy lộc.

Vào cuối những năm 1950, đầu những năm 1960, gần như cả thế giới đều phát cuồng với sơ đồ 4-2-4 đã đưa Brazil tới chức vô địch World Cup 1958. Nhưng ngay từ đầu, Maslov đã nhìn thấy những vấn đề của sơ đồ này. Vấn đề lớn nhất là khoảng cách quá lớn giữa 2 tiền đạo cánh và 2 hậu vệ cánh. Khi đối phương có bóng và tập trung khoét nhanh vào khoảng trống này, các hậu vệ dễ dàng bị đánh bại bởi đối phương đông đảo hơn.

Ngay từ khi ở Torpedo, Maslov đã tính tới giải pháp kéo 1 tiền đạo xuống lập thành hàng tiền vệ 3 người mỗi khi đội nhà mất bóng. Sang Dynamo, ông đẩy ý tưởng của mình lên một tầm cao mới khi kéo luôn cả 2 tiền đạo cánh xuống hàng tiền vệ. Sơ đồ này mang lại sự cân bằng chưa từng thấy giữa tấn công và phòng ngự. Đó là 4-4-2 và mấy năm sau, Alf Ramsey mới bắt đầu áp dụng cho đội tuyển Anh.

Cũng trong những năm 1950, 1960, cách phòng ngự phổ biến vẫn là một kèm một (man-mark). Nhưng Maslov cực ghét cách phòng ngự này, xem là là “một sự xúc phạm cho những người có liên quan”. Dynamo trở thành đội bóng đầu tiên sử dụng một cách thường xuyên phòng ngự khu vực, và để bù đắp cho những khiếm khuyết của lối phòng ngự này, ông nghĩ tới “pressing”.

Khách quan mà nói, ý tưởng gây sức ép với số lượng lớn để đoạt bóng đã xuất hiện từ trước. Nhưng chưa có ai có thể cụ thể hóa nó thành một phong cách trên sân. Một phần vì các HLV vẫn tư duy theo lối cũ và bị những giá trị cũ trói chặt. Một phần vì điều kiện khách quan không cho phép. Điều kiện khách quan ở đây là yếu tố dinh dưỡng và thể lực của các cầu thủ.

Đến thời Maslov, ý thức về dinh dưỡng và thể lực cho các VĐV đã phát triển đáng kể. Phần lớn các cầu thủ ở thời bấy giờ đã đủ sức để chơi bóng với cường độ cao trong suốt 90 phút. Nhưng để chơi được pressing thì yêu cầu về thể lực còn cao hơn một bậc. Maslov chính là người đầu tiên, ít nhất là ở Nga Xô Viết, đưa chuẩn bị thể lực vào giáo án như là một trong những khâu quan trọng nhất khi xây dựng một đội bóng.

Trong cuốn Inverting the Pyramid, Jonathan Wilson mô tả Dynama của Maslov thường “đi săn theo nhóm, áp sát đối phương và cố gắng chiếm tiên cơ ở những vị trí ít ai ngờ tới trước đó”. Tất nhiên, cái gì cũng có 2 mặt. Mặt trái của pressing là khi có nhiều cầu thủ tập trung ở một không gian, khoảng trống lớn sẽ xuất hiện ở những không gian khác. Nếu hệ thống pressing có lỗi, hay cầu thủ đối phương xoay xở thoát đi được, thì hậu quả là vô cùng lớn.

Để giải quyết vấn đề này, Maslov lại làm thêm một cách cách mạng nữa. Ông yêu cầu các cầu thủ quên đi khái niệm vị trí cố định trên sân. Nếu một hậu vệ biên dâng lên tấn công hay để gây sức ép, thì lập tức phải có một tiền vệ hay một hậu vệ khác trám vào khoảng trống mà anh ta bỏ lại.

Cứ thế, hệ thống của Dynamo sẽ xoay chuyển liên tục theo tình thế trên sân. Nhiều năm sau đó, có một đội bóng đã chơi theo cách ấy và khiến thế giới ngất ngây. Đó là Hà Lan của Rinus Michel với Total Voetball.

Những ý tưởng của Maslov dường như là vô tận. Ngay tới tận bây giờ, chúng ta vẫn thường đặc biệt ngợi khen những đội bóng có khả năng chuyển đổi mượt mà giữa các sơ đồ, các phong cách. Nhưng Dynamo của Maslov đã làm điều đó từ những năm 1960.

Họ có thể chiến đấu hung dữ như một chiến binh, nhưng cũng có thể chơi thứ bóng đá đập nhả mê hồn, và sự thay đổi xuất hiện chỉ sau một vài thay đổi nhỏ về nhân sự trước trận, thậm chí ngay trong trận.

Maslov còn đi xa tới mức dự báo rằng tới một ngày, các đội bóng sẽ chỉ còn chơi với 1 tiền đạo (nên nhớ là ở thời của ông, chơi với 2 tiền đạo vẫn là hiếm). “Bóng đá”, ông nói “giống như một chiếc máy bay. Khi tốc độ càng cao thì lực cản không khí càng lớn, nên phần đầu của nó ngày càng phải trở nên thuôn nhọn hơn.”

Như Wilson nhận xét, Maslov chính “cha đẻ của bóng đá hiện đại”. Những ý tưởng, phát kiến của ông chính là nền tảng để tạo nên những đội bóng vĩ đại nhất sau này, và cũng là nền tảng để bóng đá trở nên như hôm nay.

Thậm chí, nhiều ý tưởng trong đó, ví dụ pressing, cho tới tận bây giờ mới thực sự được phai phá triệt để. Người ta nói về pressing như thể nó là một cái gì lạ lẫm và mới mẻ lắm, mà không phải ai cũng biết rằng cách đây hơn nửa thế kỷ đã có người biến ý tưởng đó thành thực tế trên sân rồi.

Việc Maslov không nhận được sự thừa nhận rộng rãi mà ông xứng đáng nhận được là một điều quá đáng tiếc. Có thể vì Dynamo của ông không giành được những vinh quang ở châu Âu, như Dynamo của người học trò Lobanovski.

Nhưng dù sao, việc chúng ta nhìn thấy di sản của Maslov trong những thành công của Hà Lan, Ajax, Dynamo Kiev, Milan hay bây giờ là Barca, Bayern Munich cũng có thể xem là một sự tôn vinh dành cho ông, nhà phát kiến vĩ đại bị lãng quên…

Theo Vietcuongbongda.wordpress.com

https://vietcuongbongda.wordpress.com/2016/08/04/viktor-maslov-nha-phat-kien-vi-dai-bi-lang-quen/

Chia sẻ

Bình luận 1