Bóng đá Cuộc sống

Dị nhân chân khoèo chôn vùi các huyền thoại

Điểm qua các list 10 hoặc 15, 20, thậm chí 50 trận đấu hay nhất World Cup xưa nay, bạn sẽ chẳng thấy trận nào thuộc VCK World Cup 1962. Chuyện đáng nhớ trong lịch sử World Cup? Hãy tìm ở những VCK khác. Người hùng của World Cup 1962? Rất ít khi được nhắc đến. Nếu có một một "danh hiệu" nào đó xứng đáng với World Cup 1962, thì đấy sẽ là: "kỳ World Cup bị quên lãng".

Nội dung khi không có video

Trận chung kết Brazil - Czechoslovakia

NƠI CHÔN VÙI CÁC HUYỀN THOẠI

Kể cũng lạ, khi World Cup 1962 gồm những Ferenc Puskas, Alfredo Di Stefano, Lev Yashin, Pele... rút cuộc lại trở thành kỳ World Cup bị quên lãng. Kỳ thực, sau khi ghi bàn ở trận ra quân thì Pele chấn thương ở trận thứ 2 của vòng bảng và World Cup 1962 khép lại với ông ở thời điểm ấy.

Số phận Di Stefano còn hẩm hiu hơn, khi ông chấn thương từ trước khi giải bắt đầu và không được ra sân trận nào. Cũng có tài liệu cho rằng, sự thực thì Di Stefano "đụng chạm" với HLV Helenio Herrera và HLV này chỉ mượn cớ chấn thương để không sử dụng Di Stefano.

Đằng nào cũng vậy, lần dự World Cup duy nhất trong sự nghiệp cầu thủ của Di Stefano là cơn ác mộng, đáng quên cho cả ông lẫn đội tuyển TBN. Mọi người đều biết, Di Stefano chỉ khoác áo TBN nhờ luật FIFA khi ấy còn lỏng lẻo, khiến đội tuyển này được quyền sử dụng một cầu thủ đã từng khoác áo Argentina và Colombia.

World Cup 1962 chứng kiến sự thất bại của các huyền thoại khi (trái sang) Pele chấn thương ngay ở trận thứ 2, Di Stefano không được ra sân, Puskas hoàn toàn mờ nhạt còn Yashin mắc vô số sai lầm

Ngoài Di Stefano, đội tuyển TBN tại World Cup 1962 còn bao gồm các tượng đài đến từ nơi khác là Jose Santamaria và Puskas. Họ đã dự World Cup 1954 trong màu áo Uruguay và Hungary. Bấy giờ, đã 8 năm trôi qua kể từ khi Puskas tỏa sáng trong "Đội bóng vàng". Ông đã ở tuổi 35, đã lưu vong sau biến cố chính trị 1956 tại Hungary, đã thay đổi từ lối chơi đến môi trường bóng đá.

Đấy chỉ còn là một Puskas hoàn toàn mờ nhạt. Cũng vậy, Santamaria không giúp được bao nhiêu cho đội tuyển TBN. Yashin thì thậm chí còn bị coi là nguyên nhân thất bại của đội tuyển Liên Xô. Ông thường xuyên vào lưới nhặt bóng vì những sai lầm cá nhân. Ngay cả các nhà vô địch World Cup 1962 trong đội hình Brazil như Zagallo, Vava, Didi, Zito, Nilton Santos, Djalma Santos, Gilmar cũng đã già hẳn, mờ nhạt hơn chính họ so ở thời điểm vô địch World Cup 1958.

Cũng trong đoàn quân vô địch World Cup 1958 của Brazil, cầu thủ Jose Altafini giờ đã là tuyển thủ Italia. Không như các kỳ World Cup 1934, 1938, chiến lược sử dụng "ngoại binh" của Azzurri không đem lại hiệu quả ở kỳ World Cup này. Giống TBN, Italia về nước ngay sau vòng bảng.

BRAZIL LÊN ĐỈNH NHỜ DỊ NHÂN CHÂN KHOÈO

Trong bối cảnh những tên tuổi lớn đều nhạt nhòa như thế, một mình Garrincha tỏa sáng, giúp Brazil bảo vệ thành công ngôi vô địch World Cup. Didi nói đúng, khi ông tuyên bố trước giải: "Chúng tôi chỉ cần làm được phân nửa những gì đã làm tại Thụy Điển là đủ vô địch kỳ World Cup này".

Nhìn lại lịch sử, chỉ có đúng 2 ngôi sao gần như một mình quyết định danh hiệu vô địch World Cup cho toàn đội. Đó là Diego Maradona tại Mexico 1986 và Garrincha tại Chile 1962. Nhưng Maradona là một cầu thủ vĩ đại mà nhiều người tin rằng xứng đáng xếp trên cả Pele trong bảng vàng huyền thoại. Thế còn Garrincha?

Giống như sự quên lãng mà lịch sử dành cho World Cup 1962, bản thân Garrincha cũng chưa bao giờ nổi đình nổi đám. World Cup 1962 là sự kiện khắc họa rất rõ đặc điểm kỳ lạ của Garrincha. Ông và Pele là cặp bài trùng trên sân, cũng là 2 tài năng bóng đá lớn nhất trên xứ sở Samba.

Nhưng ông và Pele lại khác nhau như ngày và đêm. Pele luôn chăm chút cho sự nghiệp, sớm biết tận dụng danh tiếng để kiếm tiền, ký hợp đồng quảng cáo hàng loạt và dùng tiền đầu tư vào các lĩnh vực khác.

Chỉ có 1 ngôi sao vẫn tỏa sáng rực rỡ ở World Cup 1962 là Garrincha, người một mình đưa Brazil lần thứ 2 liên tiếp vô địch thế giới

Garrincha thì chỉ chơi bóng vì niềm vui, chẳng bao giờ đoái hoài danh tiếng, sống phóng túng và không biết đến khái niệm dành dụm, nói gì đến chuyện sử dụng đồng tiền có hiệu quả. Nếu như Pele là ngôi sao bóng đá chuyên nghiệp đầu tiên thì, ngược lại, Garrincha là ngôi sao nghiệp dư cuối cùng trong bóng đá đỉnh cao.

Ở các trận tứ kết (thắng Anh) và bán kết (thắng chủ nhà Chile), Garrincha chơi hay đến nỗi Tổng thống Chile phải lên tiếng can thiệp, khi Garrincha bị treo giò trước trận chung kết.

Ông lĩnh thẻ đỏ vì một cú đánh nguội ở vòng bán kết. Giới hâm mộ Chile gần như "biểu tình" khi biết Garrincha sẽ không được thi đấu ở trận chung kết. Ngày hôm sau, vị trọng tài biên từng phát hiện và báo cho trọng tài chính biết tình huống phạm lỗi của Garrincha lặng lẽ trốn khỏi Chile. Trọng tài chính viết lại biên bản. Và do không có trọng tài biên tường trình sự việc, FIFA xóa án treo giò, để Garrincha lại được góp mặt trong trận chung kết!

MASOPUST CŨNG CHỈ TOẢ SÁNG THẦM LẶNG

Sau khi thăng hoa trên sân cỏ Chile, Garrincha lại về Brazil bù khú với những người bạn nghèo, uống những loại rượu rẻ tiền, sống phóng túng cho đến khi qua đời trong đói nghèo. Ông là một tài năng bóng đá vĩ đại, nhưng ông chưa bao giờ là một ngôi sao theo kiểu "celebrity".

Nhưng chẳng lẽ, World Cup 1962 không còn ngôi sao nào khác ngoài Garrincha? Cuối năm ấy, France Fottball trao "Quả Bóng Vàng châu Âu" cho cầu thủ Tiệp Khắc Josef Masopust. Đây cũng là một cầu thủ huyền thoại, và ông xứng đáng lĩnh "Quả Bóng Vàng châu Âu" nhờ chơi rất hay, đưa Tiệp Khắc vào trận chung kết World Cup.

Nhưng Masopust thuộc mẫu tiền vệ con thoi, di chuyển liên tục, gây ảnh hưởng lớn đến toàn đội trong cả khía cạnh chiến thuật lẫn tinh thần. Ông có kỹ thuật điêu luyện, nhưng ông thành công nhờ phát huy giá trị thủ lĩnh hơn là phô diễn tài nghệ cá nhân. (Khi còn ở đỉnh cao phong độ, Masopust từng sang Việt Nam thi đấu trong một lần giải SKDA - tức giải bóng đá Quân đội các nước XHCN).

Josef Masopust, người giành "Quả Bóng Vàng châu Âu năm 1962" đồng thời là ngôi sao đưa ĐT Tiệp Khắc vào chung kết, cũng không được nhớ tới nhiều

Sau này, người ta cũng nói rất ít về Masopust cũng như các đồng đội của ông ở CLB Dukla Prague và đội tuyển Tiệp Khắc. Dukla từng là CLB nổi tiếng nhất Tiệp Khắc. Nhưng khi những thay đổi lớn về chính trị và xã hội xảy ra ở khu vực Đông Âu đầu thập niên 1990 thì Dukla Prague đã không thể tiếp tục tồn tại như Dynamo Kiev, Spartak Moscow, Steaua Bucarest hoặc các CLB Đông Âu nổi tiếng khác.

Đội này nhanh chóng tan đàn xẻ nghé và chấm dứt sự tồn tại vào năm 1996. Đấy cũng là một phần nguyên nhân khiến chẳng ai còn lưu ý đến Masopust và các cầu thủ Dukla từng vào chung kết World Cup 1962 trong màu áo Tiệp Khắc nữa.

Cứ coi như Chile 1962 là kỳ World Cup không có ngôi sao, không bàn thắng đẹp, không trận cầu hay. Hoặc nói đúng hơn: có cũng như không, vì ít ai cần nhớ điều gì về giải đấu này!


Nội dung khi không có video

Garrincha đùa cợt ĐT Anh (Tứ kết World Cup 1962)

GIẢI ĐẤU ĐẦY BẠO LỰC

Ngay loạt trận đầu tiên, đã xuất hiện tín hiệu của một kỳ World Cup "đói" bàn thắng, với tỷ lệ ghi bàn trong cả 4 bảng đều thấp hơn con số 3. Rút cuộc, toàn giải cũng như vậy.

Lối chơi thiên về phòng ngự phổ biến trong suốt giải đấu, và đây là lần đầu tiên tỷ lệ ghi bàn ở VCK World Cup thấp hơn 3 bàn/trận (chính xác là 2,78 bàn/trận). Chưa bao giờ có một kỳ World Cup gồm đến 6 vua phá lưới như Chile 1962. Họ đều chỉ ghi được vỏn vẹn 4 bàn.

Đây là kỳ World Cup thành công của các đội tuyển Đông Âu. Khu vực này chiếm đến 4/8 suất dự vòng tứ kết trong khi Nam Mỹ chỉ có 2 suất và Tây Âu 2 suất. Mới qua 3 loạt đấu, tức là phân nửa vòng bảng, báo chí địa phương đã ghi nhận 34 ca chấn thương - chỉ tính những vụ nghiêm trọng khiến nạn nhân không thể tiếp tục chơi bóng.

Cần nhớ: thời ấy vẫn chưa có luật thay người, nghĩa là đội nào có cầu thủ chấn thương thì... ráng chịu! Tai tiếng nhất về bạo lực là "cuộc chiến ở Santiago", nơi các cầu thủ Italia và Chile thay nhau chém đinh chặt sắt. Thua 0-2, Italia sớm về nước, dù thắng Thụy Sỹ ở trận cuối cùng. Đức và Chile đi tiếp.

World Cup 1962 có số lượng bàn thắng thấp kỷ lục nhưng lại đầy rẫy các trận đấu bạo lực, điển hình là "cuộc chiến ở Santiago", nơi các cầu thủ Italia và Chile thay nhau chém đinh chặt sắt

Hai đội mạnh khác cũng sớm về nước là Uruguay và Argentina. Uruguay xếp dưới Liên Xô và Nam Tư, còn Argentina xếp dưới Anh và Hungary. TBN thì đứng chót bảng, chẳng những nhường vé cho Brazil, Chile mà còn đứng dưới cả Mexico. Suốt vòng bảng, chỉ có trận hòa 4-4 giữa Liên Xô và Colombia là hào hứng (Liên Xô dẫn trước 3-0, rồi 4-1, nhưng rút cuộc hòa đã là may).

Tiệp Khắc vào chung kết sau khi lần lượt thắng những người bạn láng giềng là Hungary (1-0 ở tứ kết) và Nam Tư (3-1 ở bán kết). Brazil thắng Anh 3-1 ở vòng tứ kết, trong một trận đấu mà đội bóng của quê hương bóng đá đã thể hiện hết phong độ vốn có. Vào bán kết, Brazil lại thắng Chile 4-2 khá dễ dàng.

Có chút bất ngờ khi Josef Masopust mở được tỷ số cho Tiệp Khắc ở trận chung kết, nhưng Amarildo chỉ mất 2 phút để cân bằng 1-1. Amarildo chính là cầu thủ thay chỗ Pele tại giải này, chơi khá ổn thỏa. Zito và Vava ghi bàn trong hiệp 2, ấn định chiến thắng 3-1, giúp Brazil bảo vệ thành công danh hiệu vô địch World Cup.

MỘT CUỘC CÁCH MẠNG CHIẾN THUẬT

Trong bóng đá đỉnh cao, đi liền với một bước tiến quan trọng về mặt đấu pháp thường là một sự tẻ nhạt về diễn tiến trên sân. Các trận chung kết của cúp C1 châu Âu thường kém sôi động so với sự chờ đợi cũng là vì vậy. World Cup 1962 tẻ nhạt một phần vì lối chơi quá thô bạo (trong hoàn cảnh các đội chưa được phép thay cầu thủ chấn thương). Tuy nhiên, đấy cũng là vì một bước tiến lớn về đấu pháp tại giải này. Đây chính là kỳ World Cup của sơ đồ chiến thuật 4-3-3.

Bây giờ, người ta thường hay dồn người vào hàng tiền vệ để cố làm chủ khu trung tuyến, hòng chiếm lĩnh thế trận cũng như bảo vệ cho hàng phòng ngự. World Cup 1962 cũng vậy. Ngay cả Brazil - đội luôn được xem là biểu tượng tấn công - cũng kéo bớt một tiền đạo về hàng tiền vệ, để khu vực giữa sân trở nên dày đặc hơn.

Trong thập niên 1950, ai cũng thán phục cách chơi 4-2-4 của Hungary và Brazil, xem đấy là sự ưu việt hơn hẳn cách chơi WM. Brazil vô địch World Cup 1958 với cặp tiền vệ Zito - Didi quán xuyến khu giữa sân và bộ tứ tiền đạo Garrincha - Vava - Pele - Zagallo luôn đe dọa khung thành đối phương.

Nội dung khi không có video

Cuộc chiến Santiago (Chile – Italia)

Bước vào World Cup 1962, Brazil chẳng những lặp lại nguyên si sơ đồ ấy, mà còn dùng đúng những con người cũ. Họ chỉ hòa 0-0 với Tiệp Khắc ở vòng bảng. Cũng trong trận này, Pele chấn thương. Từ đó, vị trí của Pele do Amarildo đảm trách.

Khi gặp lại Tiệp Khắc ở trận chung kết thì đội hình Brazil đã khác, không chỉ ở chỗ Amarildo đá thay Pele. HLV Moreira kéo Zagallo về hàng tiền vệ. Đội hình Brazil trở thành 4-3-3 (từ tiền vệ trở lên: Zito, Didi, Zagallo - Garrincha, Vava, Amarildo) trong khi Tiệp Khắc trước sau vẫn trung thành với cách chơi 4-2-4.

Brazil làm chủ khu giữa nhờ thế "3 chọi 2" về tiền vệ. Hệ quả là 4 tiền đạo Tiệp Khắc trở nên thừa thãi vì ít có bóng. Ngược lại, khi đã khóa được tiền vệ đối phương thì hàng thủ Brazil yên tâm, và các hậu vệ cánh tha hồ dâng cao tấn công.

Brazil lên đỉnh thế giới lần thứ 2 một phần nhờ sự thay đổi chiến thuật từ 4-2-4 sang 4-3-3

Có thể xem việc chuyển từ 4-2-4 sang 4-3-3 là một trong những bước tiến lớn nhất trong lịch sử phát triển chiến thuật bóng đá. Ngoài Brazil, còn có rất nhiều đội khác chơi 4-3-3 tại World Cup 1962. Đức, Italia, TBN đều chơi như thế (còn chuyện thắng, thua là vấn đề khác).

Ngay sau kỳ World Cup này, sân cỏ châu Âu đã tràn ngập cách chơi 4-3-3, với Inter Milan tiến đến tuyệt đỉnh thành công. Cũng cần lưu ý: cách chơi Catenacio nổi tiếng của Calcio dựa trên sơ đồ 4-3-3, và HLV huyền thoại Helenio Herrera của Inter chính là HLV đội TBN tại World Cup 1962.

Tại World Cup 1954, tỷ lệ ghi bàn bình quân đạt đến con số kỳ lạ: 5,38 bàn/trận. Tại World Cup 1958, tỷ lệ bình quân là 3,60 bàn/trận. World Cup 1962 thì "chỉ có" 2,78 bàn/trận. Bàn thắng ít thì kém hào hứng. Nhưng đấy mới đúng là bóng đá đỉnh cao?

DUYÊN KỲ NGỘ ĐỨC - NAM TƯ

Giả sử có 8 đội bóng bắt thăm chia cặp ngẫu nhiên, sao cho có đúng một cặp cụ thể gặp nhau 3 lần liên tiếp, thì xác suất đã cực nhỏ rồi (1/343 hay 0,3%). Còn chuyện 8 đội dự vòng tứ kết lặp lại trong 2 kỳ World Cup liên tiếp thì chưa bao giờ xảy ra trong lịch sử.

Thế nên, xác suất thực để xuất hiện cặp tứ kết Đức - Nam Tư ở đấu trường World Cup, trong 3 lần giải liên tiếp, lại càng thấp hơn con số 0,3% (hay "3 phần ngàn") kia. Thế mà nó vẫn xảy ra!

Lần đầu tiên đội Tây Đức được dự World Cup là năm 1954. Họ thắng Nam Tư 2-0 ở vòng tứ kết và thẳng tiến đến ngôi vô địch. Đôi bên đụng độ lần nữa ở vòng tứ kết World Cup 1958. Đức vẫn thắng 1-0, nhưng chỉ dừng bước ở bán kết. Quá tam ba bận, khi lại tái ngộ ở vòng tứ kết World Cup 1962 thì Nam Tư phục thù thành công, thắng 1-0 trước khi thua Tiệp Khắc ở bán kết.

ĐT Tây Đức và ĐT Nam Tư đã gặp nhau 3 lần liên tiếp ở vòng tứ kết các kỳ World Cup 1954, 1958 và 1962

Cái duyên gặp nhau ở đấu trường World Cup giữa bóng đá Đức và Nam Tư hết sức kỳ lạ. Sau 3 cuộc đụng độ liên tiếp ở vòng tứ kết vừa nêu thì Nam Tư rơi vào thời kỳ suy thoái. Mãi đến World Cup 1974, họ mới lại xuất hiện ở đấu trường World Cup.

Đến đây thì World Cup không có vòng tứ kết. Thay vào đó, 8 đội vượt qua giai đoạn một tiếp tục chia thành 2 bảng thi đấu vòng tròn ở giai đoạn 2. Lạ thay, Đức vẫn tái ngộ Nam Tư trong vòng bảng thứ 2 của World Cup 1974 (Đức thắng 2-0).

Sau đó, Nam Tư chỉ xuất hiện ở World Cup thêm 2 lần nữa trước khi tan rã. Họ vẫn gặp Đức trong lần cuối cùng dự World Cup, nhưng kỳ này là gặp ở vòng bảng (Đức thắng 4-1). Như vậy, trong 6 lần Đức (chỉ tính Tây Đức) và Nam Tư (chỉ tính Liên bang Nam Tư, gồm đủ 6 nước trước khi chia rẽ) cùng dự World Cup, họ gặp nhau đến 5 lần, trong đó có 4 lần liên tiếp ở giai đoạn tứ kết hoặc tương đương tứ kết!

Sau khi phân tách, Nam Tư mới (chỉ còn Serbia và Montenegro, nhưng vẫn gọi là Nam Tư) lại có thêm 1 lần dự World Cup. Đó là VCK World Cup 1998. Họ vẫn gặp Đức ở vòng bảng!

KẾT QUẢ WORLD CUP 1962


(Từ 30/5 đến 17/6/1962, tại Chile)
- Vô địch: Brazil.
- Á quân: Tiệp Khắc.
- Hạng 3: Chile.
- Hạng 4: Nam Tư.
- Vua phá lưới: Garrincha (Brazil), Vava (Brazil), Leonel Sanchez (Chile), Drazan Jerkovic (Nam Tư), Florian Albert (Hungary), Valentin Ivanov (Liên Xô), cùng ghi được 4 bàn!

Kết quả cụ thể
Bảng 1 (1.Liên Xô, 2.Nam Tư, 3.Uruguay, 4.Colombia)
Uruguay – Colombia: 2-1
Liên Xô – Nam Tư: 2-0
Nam Tư – Uruguay: 3-1
Liên Xô – Colombia: 4-4
Liên Xô – Uruguay: 2-1
Nam Tư – Colombia: 5-0

Bảng 2 (1.Tây Đức, 2.Chile, 3.Italia, 4.Thụy Sỹ)
Chile – Thụy Sỹ: 3-1
Tây Đức – Italia: 0-0
Chile – Italia: 2-0
Tây Đức – Thụy Sỹ: 2-1
Tây Đức – Chile: 2-0
Italia – Thụy Sỹ: 3-0

Bảng 3 (1.Brazil, 2. Tiệp Khắc, 3. Mexico, 4.Tây Ban Nha)
Brazil – Mexico: 2-0
Tiệp Khắc – TBN: 1-0
Brazil – Tiệp Khắc: 0-0
TBN – Mexico: 1-0
Brazil – TBN: 2-1
Mexico – Tiệp Khắc: 3-1

Bảng 4 (1.Hungary , 2.Anh, 3.Argentina, 4.Bulgaria)
Argentina – Bulgaria: 1-0
Hungary – Anh: 2-1
Anh – Argentina: 3-1
Hungary – Bulgaria: 6-1
Hungary – Argentina: 0-0
Anh – Bulgaria: 0-0

Vòng tứ kết
Chile – Liên Xô : 2-1
Tiệp Khắc – Hungary: 1-0
Brazil – Anh: 3-1
Nam Tư – Tây Đức: 1-0

Vòng bán kết
Tiệp Khắc – Nam Tư: 3-1
Brazil – Chile: 4-2

Tranh hạng Ba
Chile – Nam Tư: 1-0

Chung kết
Brazil – Tiệp Khắc: 3-1

Bình luận của bạn

Sử dụng tài khoản Facebook của bạn để thêm bình luận cho bài viết. Tên, hình ảnh và thông tin cá nhân khác của bạn công khai trên Facebook sẽ xuất hiện với bình luận của bạn, và có thể được sử dụng trên nền tảng truyền thông của Báo Bóng đá Cuộc sống!

More Stories