Bóng đá Cuộc sống

Hasselbaink - N’Golo Kante - Claude Makele

3 đời Chú Lùn kiến tạo đế chế Chelsea

Từ Ken Bates tới Abramovich, Chelsea chưa bao giờ giấu diếm ý đồ lãng mạn hóa bóng đá ở Stamford Bridge. Trong hai thập kỷ trở lại, những ông chủ ở đây thường nhắc đến yếu tố “sexy” như kim chỉ nam trong cách hình thành bản sắc tại Tây London. Nhưng kỳ lạ thay, trên chặng đường chinh phục bóng đá đẹp mắt, Chelsea - vô tình hay cố ý - đã luôn lấy cho mình một điểm tựa vững chắc mang tên “những chú quỷ lùn”, một hoán dụ hình ảnh của của tờ Get West London.

Họ là những cầu thủ da màu, không to lớn về mặt hình thể nhưng mang tầm vóc và ý chí phi thường. Thô ráp nhưng chân thật. Họ cũng không chơi bóng hoa mỹ, không sở hữu đôi chân khéo léo và những cái lắc hông lừa bóng thần thánh. Bóng đá được những người như thế đơn giản hóa, biến thành các phép tính đã được lập trình sẵn giúp cỗ máy chiến thắng vận hành trơn tru.

Trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau, Stamford Bridge đã chứng kiến nhiều ngôi sao đến rồi đi. Nhưng có lẽ, bản ngã của The Blues là Jimmy Floyd Hasselbaink, Claude Makele và N’Golo Kante - bộ ba cầu thủ đại diện cho những người hùng không tên, những hoàng đế không cần vương miện.

HASSELBAINK - KẺ CHẠY TRỐN TỬ THẦN

Jimmy Floyd Hasselbaink sinh ngày 27/03/1972, cao 1m78 - chiều cao không mấy lý tưởng trong thời đại của bóng đá “chạy và tạt”. Nhưng trước khi Abramovich xuất hiện và thay đổi những giá trị truyền thống, Hasselbaink là một biểu tượng ở Stamford Bridge. Anh và Eidur Gudjohnsen tạo thành cặp bài trùng từng là nỗi ám ảnh với các hàng phòng ngự sắt đá trên xứ sở Sương mù. Trong 4 mùa giải khoác áo Chelsea, Hasselbaink ghi 70 bàn.

Đến bây giờ, Frank Lampard vẫn tiếc thay cho số phận của Hasselbaink khi Mourinho thẳng thửng gạt anh khỏi kế hoạch, dù với nhiều người yêu Chelsea, vai trò của Hasselbaink là vô cùng quan trọng.

Song Hasselbaink không cần người ta nhớ đến anh bởi những con số, cũng chẳng cần tấm kỷ niệm chương ghi danh công lao nào bởi cả cuộc đời tiền đạo người Hà Lan, nhiệm vụ tối thượng là chạy trốn tử thần. Trong bài phỏng vấn trên tờ FourFourTwo 3 năm về trước, Hasselbaink nói rằng “Cuộc sống ngày hôm nay của tôi là viên mãn lắm rồi”.

Hasselbaink sinh ra ở Suriname, thuộc địa cũ của Hà Lan và là quần đảo nhỏ bé ở Nam Mỹ (hiện là quốc gia có diện tích nhỏ nhất tại khu vực này). Suriname rất nghèo, với nền kinh tế tự cung tự cấp, dựa nhiều vào sản lượng nông nghiệp. Những số phận ở đó vì thế cũng chẳng lấy gì làm khấm khá.

Đã nghèo còn mắc cái eo, vận đen cứ bám riết lấy Hasselbaink từ khi anh chỉ là đứa trẻ nhỏ. Hasselbaink kể lại trong cuốn tự truyện của mình năm lên 5, trong một lần đi bộ qua khu phố đông người qua lại, anh bị chiếc xe máy điều khiển bởi một người phụ nữ tông vào. Các bác sỹ ở bệnh viện kết luận: chân trái của Hasselbaink nhiều khả năng tàn phế.

Vài ngày sau, họ cho anh xuất viện vì giữ lại cũng không giải quyết được việc gì. Và gia đình Hasselbaink đã đi một canh bạc: Di cư tới Hà Lan hòng chữa khỏi chân cho con trai.

Công nghệ y tế tân tiến giúp phát hiện Hasselbaink mắc chứng xương cong. Cuộc phẫu thuật được nhanh chóng thực hiện, khi các bác sỹ quyết định nắn xương và bó cố định toàn bộ chân trái của Hasselbaink trong vài tháng. Bản thân Hasselbaink mắc chứng tăng động nhẹ ngày nhỏ nên nhằm hạn chế rủi ro trong quá trình phục hồi, y bác sỹ thường xuyên phải sử dụng các mũi tiêm ức chế thần kinh khiến Hasselbaink chìm vào giấc ngủ.

Phép màu xảy ra. Chân trái Hasselbaink lành lặn, và phần còn lại là lịch sử. Tuy nhiên, những cột mốc cuộc đời trong phần lịch sử ấy mới là điều đáng nói.

Khởi nghiệp ở vị trí tiền vệ phải trong màu áo ZFC, Hasselbaink nhanh chóng gây ấn tượng. Dù vậy, đó đa phần là những ấn tượng “tiêu cực”. Hasselbaink gia nhập băng đảng trộm cắp đường phố và đã vào trại quản giáo 3 tháng. Anh tới DWS và tiếp tục lấy trộm chiếc đồng hồ đeo tay của một cầu thủ đội A.

Tới Telstar, tức là ở cấp độ chuyên nghiệp, Hasselbaink lại thường xuyên đi muộn. Vì thế, anh lập tức bị HLV Niels Overweg thanh lý do cố tình tới muộn trong một trận đấu chính thức ở giải VĐQG.

AZ Alkmaar liều lĩnh cưu mạng Hasselbaink và nuôi hy vọng sẽ cải huấn được con ngựa bất kham này. Dẫu sao thì anh ta cũng sở hữu năng lực bóng đá siêu phàm, vả lại anh trai Carlos của Hasselbaink là thành viên của đội.

Sau một năm, Hasselbaink khẳng định được chỗ đứng với 46 lần ra sân. Anh thay đổi cách sống, trở thành con người có ích và tránh xa các tệ nạn. Nhưng bản hồ sơ cá nhân của Hasselbaink thì không bao giờ mất đi. Những vết tích quá khứ còn ở đó. Henk Wullemes, HLV đương thời của AZ từ chối gia hạn hợp đồng do lo sợ Hasselbaink quen đường “ngựa chứng”.

PSV khước từ Hasselbaink sau ba tuần thử việc, còn PEC Zwolle không gật đầu trước các điều khoản cá nhân Hasselbaink đưa ra. Cả mùa giải 1993/94, Hasselbaink phải tập chay ở HFC Haarlem.

Ở tuổi 20, là một cầu thủ chuyên nghiệp nhưng Hasselbaink rơi vào cảnh thất nghiệp. Anh cố gắng tới Áo tìm kiếm một bản hợp đồng tử tế nhưng mọi nỗ lực đều bất thành. Nơi trú duy nhất là Neerlandia, một CLB nghiệp dư ở… hạng 6 Hà Lan.

Mùa hè 1995, Hasselbaink may mắn lọt vào mắt xanh của Campomaiorense, đội bóng mới lên hạng ở giải VĐQG Bồ Đào Nha. Khá khó hiểu, vì một lý do nào đó mà ông chủ tịch CLB này muốn giữ kín chuyện ký hợp đồng với Campomaiorense.

Trước truyền thông, Campomaiorense gọi Hasselbaink bằng cái tên Jimmy, chứ tên thật của anh phải là Jerrel. Hasselbaink từng tâm sự với tờ Telegraaf, anh chưa từng có cơ hội cải chính với báo giới. “Tôi không có danh phận”, Hasselbaink cười gượng gạo.

Bằng tài năng bẩm sinh, Hasselbaink luân chuyển tiếp Boavista trước khi được HLV huyền thoại George Graham đưa về Leeds United với cái giá chuyển nhượng 2 triệu bảng.

Ở Leeds, Hasselbaink là thần tượng mới. Anh có 26 bàn trong mùa giải đầu tiên mặc cho bước khởi đầu chậm chạp (5 bàn ở giai đoạn lượt đi). Hè năm 1999, Hasselbaink đánh tiếng muốn tới Atletico vì những thử thách. Anh cam đoan CLB sẽ lãi lớn nếu cho phép anh ra đi (sự thật là Leeds lãi tới 10 triệu bảng sau phi vụ chuyển nhượng ấy).

Vậy mà sau khi giao dịch kết thúc, HLV đương nhiệm David O’Leary đã đăng đàn tuyên bố: “Cậu ta là kẻ tham lam, con của một mụ chó cái”. O’Leary còn chụp mũ Hasselbaink lười biếng, không chịu tới sân tập dù thực tế nói điều ngược lại: 34 bàn/69 trận.

Cả cuộc đời, Hasselbaink chưa từng hưởng niềm hạnh phúc trọn vẹn. Khi là cuộc sống đời tư phức tạp, lúc là sự phủ nhận trơ trẽn của giới cầm quyền. Ở cấp đội tuyển, Hasselbaink phải chờ tới năm 28 tuổi mới có lần đá chính. Đáng tiếc thay, lúc anh khoác lên sắc áo da cam lại trùng với chu kỳ đi xuống của bóng đá Hà Lan.

Ở Chelsea là câu chuyện tương tự. Anh tới Chelsea và cứu rỗi đội bóng ấy trong những lúc bi đát. Cho tới ngày nguồn tiền dầu mỏ đổ vào ồ ạt và giúp lột xác CLB, Hasselbaink là người đầu tiên phải ra đi. Đó là số phận mà tạo hóa trao cho Hasselbaink.

Sau tất cả, trên khắp khán đài Stamford Bridge, người ta vẫn truyền tai câu nói “Nếu Eidur là băng, Jimmy là lửa”. Hasselbaink là một ngọn lửa cháy âm ỉ, trực chờ thổi vào bầu không khí buồn tẻ trên sân bằng một khoảnh khắc bùng nổ. Nó có thể không đẹp mắt, nhưng chắc chắn mang một cảm xúc mãnh liệt.

“VỊ TRÍ MAKELELE” VÀ HẬU DUỆ KANTE

Hasselbaink cũng là một cầu thủ da màu. Nhưng ít nhất, anh là tiền đạo. Sự khác biệt lớn nhất giữa tiền đạo và những vị trí khác, đặc biệt là những cầu thủ đóng vai trò “cân bằng lối chơi” như Makelele và Kante là “khoảnh khắc bùng nổ”.

Trong một trận đấu, tiền đạo có thể im lặng trong 89 phút và vào phút thi đấu cuối cùng, anh ta ghi bàn. Như vậy là quá đủ để khắc một nét thật sâu vào tâm trí khán giả.

Tuy nhiên, những “công nhân” bị yêu cầu làm công việc bần hàn và kém thẩm mỹ nhất trên sân không bao giờ có đặc ân ấy. Trong cả một chiến dịch, anh ta âm thầm chiến đấu. Càng khó để xác suất mẫu cầu thủ như thế làm cầu trường bùng nổ. Bằng mắt thường, rất khó để nhận ra tầm ảnh hưởng tưởng vô hình, nhưng thực chất mang tính xuyên suốt của các tiền vệ phòng ngự như Makelele hay bây giờ là Kante.

Đó chính là bi kịch lớn nhất, vấn đề nhức nhối của lịch sử bóng đá thế giới. Mọi thứ sẽ chỉ càng tồi tệ hơn nếu không nhờ sự can thiệp của các cỗ máy thống kê chỉ số bóng đá, đặc biệt trong bối cảnh phổ quát đại đa số những người nắm quyền sinh sát trong tay là tầng lớp… kém hiểu biết nhất về bóng đá. Ở đây là những ông chủ CLB, giới tài phiệt dầu mỏ, tài chính, cổ phiếu và bất động sản.

Makelele, dân nhập cư vào Pháp có gốc gác ở Zaire, nay thuộc CHDC Congo. Khởi đầu có phần chậm hơn những người bạn cùng trang lứa như Thuram (mất 9 năm mới vào được đột một Nantes) nhưng Makelele đã liên tiếp tạo ra những cú đại nhảy vọt. Nhờ vị trí “tiền vệ phòng ngự”.

Công việc của Makelele là chặn bóng, phá bóng và chuyền đúng địa chỉ. Người viết dùng từ “chuyền đúng địa chỉ” thay vì “chuyền bóng” là bởi phân việc của Makelele là không để bóng rơi vào quyền kiểm soát đối phương. Anh chuyền ngắn (thường là các đường chuyền dưới 10m), hiếm khi chuyền dài do lẽ ấy.

Nghe thì đơn giản nhưng kỳ thực, Makelele đã gánh trên vai toàn bộ những công việc nặng nhọc nhất trên sân. Một mặt, cầu thủ cao 1m70 này ngăn chặn các đợt tấn công của đối phương ngay từ vòng tròn giữa sân, giảm thiểu tối đa áp lực cho bộ tứ hậu vệ.

Mặt khác, anh luôn đảm bảo nếu bóng trong chân mình, đồng đội chắc chắn sẽ nhận được bóng và tiếp tục triển khai mảng tấn công cho đội nhà. Tổng quát mà nói, Makelele là người “cân bằng lối chơi”, một vị trí đòi hỏi khả năng phán đoán, sự tỉnh táo tập trung cao độ và trên tất cả, đức hy sinh lớn lao, chịu thân phận “phông nền” cho đồng đội tỏa sáng.

Trong 3 năm Makelele ở Bernabeu, Real đoạt 2 chức vô địch La Liga và 1 danh hiệu Champions League. Cả thế giới đều nhìn ra phẩm chất của Makelele, ngoại trừ ngài chủ tịch Florentino Perez.

Ông trùm ngành xây dựng và ngân hàng tuyên bố “Chỉ chuyền bóng được 3m thì không đòi lương cao hơn được”. Perez mới nhìn thấy bề nổi của vấn đề chứ không hiểu rõ bản chất của bóng đá.

Nếu phải cắt nghĩa khái niệm Galacticos, Makelele là minh họa điển hình. Nhưng Perez coi “Dải ngân hà” là những ngôi sao triệu đô cùng đời sống ngoài sân cỏ phức tạp. Ông bán Makelele với mức giá chỉ 16,6 triệu bảng cho Chelsea, vừa là đặt dấu chấm hết cho dải ngân hà phiên bản 1.0, vừa là mở ra cánh cửa tiến gần tới sân khấu tráng lệ của bóng đá thế giới cho Chelsea.

Sau sự ra đi của Makelele, Real mất tới 4 năm để vào tới vô địch quốc nội, đồng thời trải qua 7 năm đằng đẵng không vào tới vòng 8 đội mạnh nhất ở Champions League.

Cái ngày Makelele rời Madrid cũng là lúc Bernabeu chào đón David Bekham - biểu tượng của ngành công nghiệp “giải trí bóng đá”. Zidane dù kiệm lời cũng phải thốt lên: “Tại sao phải sơn thêm lớp vàng ròng lên chiếc Bentley trong khi trái tim của chiếc xe - khối động cơ đã hỏng?”.

Bài học lịch sử ấy buộc những nhà tư bản phải xem lại lại nhân sinh quan trong các vụ đầu tư bóng đá. Makelele có thể chưa bao giờ được đánh giá đúng năng lực (chí ít là khía cạnh tiền lương), nhưng di sản anh để lại cho nhân loại nói chung và Chelsea nói riêng là không thể kể siết.

Makelele đã định nghĩa lại khái niệm phòng ngự trong bóng đá, buộc giới quan sát phải gọi vị trí mà anh chơi là “vị trí Makelele”. Đồng thời, anh gián tiếp giúp hậu bối của mình là N’Golo Kante, một tiền vệ phòng ngự da màu khác có rất nhiều điểm tương đồng với mình, giành được chỗ đứng ở Stamford Bridge.

Kante - cao 1m69 - từng bị 9 học viện đào tạo bóng ở Pháp từ chối. 4 năm trước, Kante còn đang tìm kiếm cơ hội ở Ligue 3 (giải hạng ba Pháp). Cho tới khi có bản hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên, Kante vẫn chưa thể tự sắm cho mình một chiếc xe hơi. Anh vẫn tới khu huấn luyện của Bolougne bằng xe tay ga màu vàng ố.

Giống như Hasseilbank và Makelele, Kante thuộc diện “bị đì”. Ngày mới đá bóng, anh đăng ký chơi “số 10” dưới tiền đạo. Nhưng HLV của Suresnes (đội bóng Kante khởi nghiệp) cho rằng anh quá lùn nên bắt đá hậu vệ biên.

Cho tới lần hiếm hoi mà lò đào tạo danh tiếng Clairefontaine tổ chức giải U19 đội dự bị, Kante, nhờ lợi thế ăn tập lâu năm được trao băng đội trưởng. Trong 18 trận năm ấy, Suresnes thắng 15, hòa 3 và vô địch. Riêng Kante là vua phá lưới với 15 bàn.

Anh tới Chelsea với mức giá 29,2 triệu bảng sau mùa giải kỳ diệu cùng Leicester, là cầu thủ đắt giá thứ 8 trong kỷ nguyên Abramovich, và cũng là hợp đồng có thiên hướng phòng ngự đắt đỏ nhất ở Chelsea.

Chi tiết này phần nào cho thấy sự thay đổi trong quan niệm của Abramovich, rằng nền tảng của mọi trường phái bóng đá, luôn là những tiền vệ thầm lặng như Makelele và Kante.

Bình luận của bạn

Sử dụng tài khoản Facebook của bạn để thêm bình luận cho bài viết. Tên, hình ảnh và thông tin cá nhân khác của bạn công khai trên Facebook sẽ xuất hiện với bình luận của bạn, và có thể được sử dụng trên nền tảng truyền thông của Báo Bóng đá Cuộc sống!

BÓNG ĐÁ CUỘC SỐNG SPECIAL