Bóng đá Cuộc sống

Cực tả đổ bê tông, vô chính phủ tấn công tổng lực

Cuốn sách của Benedikt Taschen về việc chụp ảnh bóng đá những năm 1970 có tựa đề The Age of Innocence (tạm dịch: Thời đại ngây thơ). Một cái tựa thật phù hợp, bởi lẽ đó có lẽ là thời kỳ cuối cùng mà những câu thủ bóng đá vẫn chưa phải là các ngôi sao thật sự, CLB vẫn tập trung vào cộng đồng, giá vé rẻ, và như nhà báo Ed Vulliamy viết, “sự ngây thơ ở nơi hàng nghìn cậu trẻ vùng Merseyside đi xe đò xuống London và ngủ ngoài công viên để xem một trận chung kết”.

Ở châu Âu, đó là thời kỳ nổi lên của bóng đá tổng lực, thay cho triết lý cũ catenaccio. Kiểu đá đổ bê tông đó bị cho là yếm thế, tiêu cực, và phản động, trong khi bóng đá tổng lực là nghệ thuật, tích cực, và cách mạng. Sự phân kỳ triết lý giữa hai phong cách đó sẽ chia rẽ bóng đá mãi mãi.

Đó là sự phản ảnh của những vấn đề xã hội rộng lớn hơn, hai phong cách này đều mang màu sắc của những người cánh tả. Trong khi David Winner gọi bóng đá tổng lực là một phần của phong trào phản văn hóa vô chính phủ kiểu Amsterdam những năm 1960, thì triết gia của phe cực tả và CĐV AC Milan, Antonio Negri, từng mô tả catenaccio là “cuộc chiến tranh giai cấp”.


BÓNG MA CỦA MACHIAVELLI

Không lâu trước khi giới quý tộc bắt đầu chơi calcio fiorentino, một thứ bóng đá cổ điển trên quảng trường Santa Croce của Florence thế kỷ 16, một người Florence tên là Niccolo Machiavelli đã viết một luận văn khiến ông trở thành một trong những người sáng lập của khoa học chính trị hiện đại.

Trong khi nhiều người coi cuốn The Prince (Quân Vương) là “những đề xuất xấu xa cho các nhà độc tài để nắm giữ quyền lực”, những triết gia thời kỳ Khai sáng như Rousseau và Diderot đã chứng minh rằng Machiavelli đã luôn là một người Cộng hòa, dù tác phẩm khét tiếng của ông nói khác.

Vào lúc mà Italy bị xâu xé bởi các nhà nước - thành bang và Giáo hội Công giáo, liên tục xung đột với nhau và với những kẻ xâm lăng từ bên ngoài, Machiavelli kêu gọi một vị minh quân đứng ra đoàn kết đám đông quần chúng.

Cuốn sách “The Prince” (Quân Vương) của Niccolo Machiavelli mở đầu cho lý thuyết về chính trị thực dụng, khởi nguồn của chiến thuật catenaccio trong bóng đá.

Vị quân vương của Machiavelli, thật tự nhiên, chống lại Giáo hoàng và các gia đình quý tộc tham quyền cố vị. Hơn nữa, ông khẳng định rằng vị quân vương đó phải xuất thân từ quần chúng chứ không phải từ giới quý tộc.

Là lý thuyết về chính trị thực dụng, giải phóng khỏi các ràng buộc đạo đức và tâm linh, tác phẩm The Prince thảo luận về cách giành và giữ quyền lực - trở thành cuốn sách phải đọc của mọi nhà cách mạng, từ những người Jacobin những năm 1790 ở Pháp, tới các triết gia Marxist như Antonio Gramsci, và cả các đảng Xã hội ngày nay.

Điều khiến Machiavelli khác biệt với các nhà tư duy xã hội không tưởng như Thomas More và Plato là dự án của ông có cội rễ từ những điều kiện xã hội-chính trị thời bấy giờ. Negri, trong khi bình luận về xu hướng chiến thuật chung của bóng đá Italy, có nói tới điều mà ông gọi là “chủ nghĩa Machiavelli” của dân Ý - “xoay xở với những gì bạn có trong tay”.


BẢN CHẤT CỦA CATENACCIO

Các đội bóng Italy thời hậu chiến chơi với phong cách sau này sẽ được gọi là catenaccio. Với một hậu vệ quét đằng sau hàng thủ, họ sẽ chơi phòng ngự rất chặt, lôi kéo đối thủ dâng lên trước khi tung ra một cú phản đòn tốc độ, chính xác.

Trong số những người tiên phong cho hệ thống này có Helenio Herrera,hay Il Mago (Nhà ảo thuật), một HLV nổi tiếng với việc xây dựng các đội bóng chơi tiêu cực và tàn nhẫn. Đầy tham vọng và là một người theo đuổi sự hoàn hảo, Herrera thiết kế các đội bóng của ông chỉ vì một mục đích: chiến thắng.

Là con trai của một tay vô chính phủ bị trục xuất từ Andalusia (TBN), Herrera sinh ở Buenos Aires (Argentina), và lớn lên ở Casablanca (Morocco), cùng Paris (Pháp). Ngoài việc chơi bóng, ông làm các nghề khác để sinh nhai. Ý thức được tài năng khiêm tốn của mình, ông đã phát triển một tư duy chiến thuật cực kỳ sắc bén để bù đắp.

Herrera thành công đầu tiên trên ghế HLV ở Atlético Madrid, 2 lần vô địch TBN trong 4 năm. Ông là một trong những HLV đầu tiên nhấn mạnh tới các trại tập huấn cho CLB. Alfonso Aparicio, một cầu thủ Atlético, từng nói: “Ông ấy thường bắt chúng tôi tập như điên 3 tiếng mỗi ngày, nhưng điều đó đồng nghĩa tới Chủ nhật, chúng tôi có thể đè bẹp bất cứ đối thủ nào”.

Sau khi Real Madrid, nổi tiếng là đội bóng con cưng của nhà độc tài Franco, đưa về Alfredo Di Stéfano, Barcelona - biểu tượng của bản sắc và tinh thần cộng hòa Catalonia - đã bổ nhiệm Herrera với hy vọng xoay chuyển tình thế.

Trong cuốn The Dark Matter of Violence (Tính chất đen tối của bạo lực), lời nói đầu cho cuốn In Defence of the Terror: Liberty or Death in the French Revolution (Bảo vệ sự khủng bố: Tự do hay là Chết trong Cách mạng Pháp) của Sophie Wahnich, triết gia kiêm nhà phê bình văn hóa Marxist Slavoj Žižek lập luận rằng trong khi người ta nhất trí tính chất quân sự và quân phiệt hóa của xã hội Sparta là phi nhân, chính bản chất đó đã cho phép xã hội đấy chống lại thành công sức mạnh áp đảo của đế quốc Ba Tư.

Huyền thoại Helenio Herrera là người tiên phong khởi xướng chiến thuật catenaccio và đã thu được thành công vang dội.

Žižek cũng lập luận rằng những trại huấn luyện khắc nghiệt kiểu Sparta là biểu trưng cho ý tưởng rằng tự do có giá của nó, đó là sự hy sinh đau đớn. Tự do chỉ đạt được thông qua kỷ luật sắt và ý chí thép. Tất nhiên, Žižek nói về chính trị. Tuy nhiên, nhìn qua lăng kính bóng đá, thì cách tổ chức xã hội kiểu Sparta chính là đòi hỏi của catenaccio.

Ở Barcelona, Herrera bắt đầu với 3 phiên tập mệt nhoài mỗi ngày. Sau ngày đầu tiên, một số cầu thủ nôn ói vì không chịu nổi cường độ, nhưng tới nhiệm kỳ của ông, ông đã giành 2 La Liga, bao gồm một danh hiệu ngay mùa đầu tiên.

Đòi hỏi về kỷ luật và tinh thần làm việc tới kiệt sức của Herrera được đúc kết thông qua chính cuộc đời ông - ông ăn ít, không bao giờ bia rượu hay hút thuốc, và tập yoga mỗi ngày. “Những ai không cố gắng hết sức, tức là chưa cố gắng gì cả” là tuyên ngôn sống của ông.

Herrera chuyển tới Inter Milan năm 1960 và mang theo triết lý đó. Không ngôi sao cá nhân nào trong đội hình được vi phạm các giá trị tập thể và ai thách thức ông sẽ mất chỗ đá chính ngay lập tức. Không lâu sau đó, những Fachetti, Picchi, Mazzola, Guarneri và Burgnich bắt đầu gây kinh hoàng cho đối thủ.

Lối đá catenaccio của Herrera bao gồm 4 hậu vệ và một libero tự do (hậu vệ quét). Trong khi các hậu vệ được huấn luyện để kèm người, libero là một hậu vệ bổ trợ, đón những tình huống bóng bật ra và chuyển nhanh sang tấn công. Các tiền vệ và tiền đạo sau đó sẽ tung ra cú phản đòn dứt điểm.

Trong khi Herrera được cho là người sáng lập nên hệ thống này, những ý tưởng của ông có lẽ xuất phát từ đối thủ Nereo Rocco, người lại lấy cảm hứng từ Karl Rappan. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ Liberation, Antonio Negri cho rằng catenaccio có những tính chất cứng rắn và ương ngạnh của nông dân Ý: “Đó là cuộc đấu tranh giai cấp, của một giai cấp yếu ớt hơn và phải tự bảo vệ mình”.

Sinh ở thành phố nhỏ Trieste, Rocco chơi cho Triestina - một CLB vô danh - trong thời kỳ trước Thế chiến thứ nhất. Ông khởi nghiệp HLV ở Triestina mùa 1947/48 và đưa CLB về đích hạng Nhì. Ở đó, ông bắt đầu phát triển lối chơi nhấn mạnh vào phòng ngự.

Năm 1954, Rocco chuyển tới đội Serie B Padova, xây dựng một đội bóng phòng ngự phản công cực kỳ kỷ luật và cứu họ khỏi rớt hạng mùa đó. Mùa 1957/58, Padova thăng hạng Serie A và ngay lập tức về đích thứ 3.

Cùng thời với Helenio Herrera là Nereo Rocco, đối thủ nhưng cũng là người cùng ý tưởng lấy catenaccio là triết lý bóng đá xuyên suốt sự nghiệp.

Trong khi Rocco thích đội hình 1-3-3-3 (đôi khi chuyển sang 1-4-4-1 và 1-4-3-2), Herrera điều chỉnh nó thành 5-3-2 nổi tiếng với biệt danh verrou (then cửa) - thêm một người ở hàng thủ để đội bóng có thể đá linh hoạt hơn.

Năm 1961, Rocco có bước chuyển lớn trong sự nghiệp với AC Milan. Áp dụng triết lý phòng ngự, ông vô địch Italy ngay mùa đầu tiên dẫn dắt Milan. Những ngôi sao như Dino Sani, Altafini, Cesare Maldini và Gianni Rivera còn đưa Milan vào chung kết Cúp C1 châu Âu 1963, gặp con ngáo ộp của bóng đá thời bấy giờ Benfica.

Catenaccio như thế đã ra đời trước hết nhờ thiên tài của Nereo Rocco. Ngay từ đầu, catenaccio đã bị chê bai về mặt mỹ thuật. Việc Herrera bảo vệ thành công Cúp C1 châu Âu với Inter vào năm 1965 được bình luận là “không phải một chiến thắng cho những người theo đuổi bóng đá thuần khuyết”.

Trận chung kết Cúp C1 châu Âu 1963 ở Wembley thì được gọi là cuộc đấu giữa sự thực dụng tiêu cực - AC Milan của Rocco - và lối đá nghệ sĩ phiêu lưu của Benfica. Milan đã chiến thắng và trở thành CLB Italy đầu tiên vô địch Cúp C1.

Không giống Herrera, Rocco sống một cuộc đời lãng tử. Ông thường xuyên xuất hiện trong quá bar và các nhà hàng sang trọng, thích giao du với các phóng viên, với một trong những người bạn thân nhất của ông là biên tập viên của Gazzetta dello Sport, Gianni Brera.

Là thành viên của phong trào kháng chiến chống phát-xít ở Ý trong Thế chiến II, Brera còn viết cho các ấn phẩm cánh tả và có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa như Il Giorno và Il Repubblica. Ông tự chế tác ra ngôn ngữ của riêng mình cho bóng đá và phá vỡ mối liên hệ khi đó còn là nội tại giữa những từ vựng của thời phát-xít với thể thao ở Ý. Chính ông là người tổng kết đầu tiên về phong cách chơi bóng đặc biệt của Rocco và Herrera.


MÀU ĐỎ GÂY KINH SỢ

Trước một lối chơi phòng ngự mới, các đội phải điều chỉnh lối đá tấn công của họ theo. Những người đầu tiên làm như thế là các HLV Đông Âu.

Boris Arkadyev, HLV Dynamo Moscow vào đầu những năm 1940, nghĩ ra điều mà Jonathan Wilson gọi là “sự mất trật tự có tổ chức” trong cuốn sách về chiến thuật nổi tiếng của ông Inverting the Pyramid (Đảo ngược kim tự tháp). Các tiền vệ và tiền đạo bắt đầu di chuyển tự do và ngẫu hứng, đổi chỗ cho nhau, để đối phó với libero tự do và hệ thống kèm người.

Mikhail Yaushin, người thừa kế của Arkadyev, từng nói: “Nguyên tắc của lối chơi tập thể hướng dẫn bóng đá Xô Viết. Một cầu thủ không chỉ cần giỏi các kỹ năng, các kỹ năng đó còn phải cần thiết cho đội bóng”.

Với tinh thần tập thể đó, Hungary của Gusztáv Sebes vào đầu những năm 1950 - đội bóng bất bại trong 5 năm liền - sẽ chơi thứ bóng đá mà họ gọi là “bóng đá xã hội chủ nghĩa”. Không giống ở các ĐTQG khác, Sebes không chọn những người giỏi nhất cho mỗi vị trí, ông chọn người tốt nhất cho đội bóng. Về chiến thuật, tư duy của ông thật đơn giản: đội bóng chơi tấn công càng trôi chảy, hàng thủ đối phương càng khó tổ chức.

Trước làn sóng kinh hoàng của bóng đá phòng ngự, các HLV Đông Âu là những người đầu tiên đứng lên chống lại mà tiêu biểu là Valeriy Lobanovskyi.

Những năm 1960, Valeriy Lobanovskyi - người sẽ mang Cúp C2 châu Âu về Kyiv - cùng với chuyên gia thống kê Anatoliy Zelentsov xây dựng lý thuyết bóng đá riêng của họ.

Trong cuốn The Methodological Basis of the Development of Training Models (Cơ sở phương pháp luận để phát triển các mô hình huấn luyện) mà họ cùng viết, có đoạn: “Cần phải đẩy đối thủ vào tình thế mà bạn muốn. Một trong những cách quan trọng nhất để làm điều đó là thay đổi các không gian của trận đấu”.

Lý thuyết về không gian đó sau này sẽ được hoàn thiện bởi 2 người Hà Lan - Rinus Michels và tông đồ của ông Johan Cruyff.


CUỘC NỔI LOẠN CỦA BÓNG ĐÁ TỔNG LỰC

Là một tiền đạo đầy tài năng đá cho Ajax Amsterdam những năm hậu chiến, Rinus Michels nhận được sự huấn luyện từ Jack Reynolds và Vic Buckingham. Năm 1965, ông được bổ nhiệm dẫn dắt Ajax. Michels, giống như những người đồng nghiệp Xô Viết, ý thức được việc phải xây dựng một triết lý bóng đá của riêng ông - điều sau này sẽ được gọi là bóng đá tổng lực.

Với việc phần lớn diện tích Hà Lan ở dưới mực nước biển, không gian là tài sản quý giá nhất của xã hội Hà Lan. Trong nhiều thế kỷ, người Hà Lan đã xây dựng quy hoạch chi tiết cho từng mét đất. Một câu ngạn ngữ nổi tiếng của nền văn hóa này là: “Chúa tạo ra thế giới. Người Hà Lan tạo ra đất nước Hà Lan”.

Michels lấy cảm hứng từ tính kinh tế học về không gian rất tinh tế của Hà Lan để xây dựng triết lý của ông: trong khi kích cỡ sân bóng là cố định, các không gian chơi bóng có thể được điều chỉnh tùy theo nhu cầu của đội.

Trong cuốn Brilliant Orange: The Neurotic Genius of Dutch Football (Màu da cam xuất sắc: Những thiên tài tư duy của bóng đá Hà Lan), David Winner viết: “Khi có bóng, Ajax - và sau này là ĐTQG Hà Lan - cố gắng mở rộng sân bóng tối đa có thể… thấy mọi tình huống di chuyển là một cách để tận dụng các không gian. Khi họ mất bóng tư duy tương tự cũng được áp dụng: mục đích là phá hủy các không gian của đối thủ”.

Tiếp nối các HLV Đông Âu là cha đẻ của bóng đá tổng lực, Rinus Michels, phát triển thứ bóng đá đối chọi với lối chơi phòng ngự thực dụng của người Italy.

Trong khi các HLV Xô Viết chỉ áp dụng việc hoán đổi vị trí cho các tiền vệ và tiền đạo, Michels mở rộng điều đó ra khắp mặt sân. Ngày 7/12/1966, trong một buổi tối đầy sương mù ở Amsterdam, Ajax lúc đó còn vô danh đánh bại Liverpool của Bill Shankly 5-1 ở vòng 2 Cúp C1 châu Âu.

Liverpool là ứng viên số 1 của giải và Shankly tuyên bố trước trận sẽ “đè bẹp đối phương với 7 bàn” trong lượt về tại Anfield. Kết quả trận đó là 2-2. Những người Hà Lan đang tới.

Những năm 1960 cũng là thời kỳ xã hội Hà Lan thay đổi mạnh mẽ với các phong trào phản văn hóa ở Amsterdam - một thành phố được triết gia chuyên nghiệp và thủ môn nghiệp dư người Pháp Albert Camus mô tả rằng đáng chán tới mức “trong hàng thế kỷ, dân hút thuốc tẩu đã lặng nhìn cùng trận mưa đó rơi xuống cùng con kênh đó”.

Bắt đầu là một phong trào chống hút thuốc, cuộc đấu tranh của những người phi chính phủ trở thành phong trào chống lại văn hóa tiêu dùng, chống chủ nghĩa bảo thủ, phát-xít, và chiến tranh Việt Nam.

Năm 1966, những sinh viên vô chính phủ và công nhân cánh tả xuống đường, đụng độ với cảnh sát. Chính trong bối cảnh đó, Ajax nổi lên, phá vỡ trật tự ở châu Âu và làm mê hoặc thế giới với lối đá tổng lực của họ. Đội bóng Hà Lan giành Eredivisie 4 lần từ 1966 tới 1970 và Cúp C1 châu Âu 3 lần từ 1971 tới 1973.

Giống như phong trào phản văn hóa, triết lý của Michels nhấn mạnh vào lối chơi tập thể chứ không phải tài năng cá nhân. Nhưng không giống catenaccio, bóng đá tổng lực vẫn khuyến khích kỹ thuật và tư duy thông minh. Cruyff sẽ được mô tả là một “nghệ sĩ” và “Pythagore của bóng đá”.

Johan Cruyff, học trò của Michels, cũng tiếp bước người thầy giúp bóng đá tổng lực làm mưa làm gió khắp châu Âu và chèn ép mạnh mẽ catenaccio.

Cruyff và các cầu thủ Hà Lan khác cũng đấu tranh để bóng đá được chuyên nghiệp hóa. Khi ông phát hiện các quan chức của LĐBĐ Hà Lan KNVB được mua bảo hiểm khi đi nước ngoài nhưng cầu thủ thì không, Cruyff đã sử dụng ảnh hưởng rất lớn của ông để thay đổi. Ngay trước World Cup 1974, Cruyff - lúc đó là đội trưởng ĐTQG - dọa rằng cả đội sẽ biểu tình nếu họ không được thưởng giống các đội châu Âu khác.

Năm 1971, Rinus Michels chuyển tới Barcelona. Michels nhận ra các cầu thủ Barcelona không thiếu tố chất kỹ thuật, nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi những chỉ trích và thiếu tinh thần chiến thắng. Johan Cruyff thì gây sự với ban huấn luyện ở Ajax vào năm 1973. Trong khi lãnh đạo đội muốn bán ông cho Real Madrid, ông đã ép họ phải bán mình cho Barcelona, nói thẳng rằng ông không muốn đá cho một đội liên hệ với Franco.

Vào lúc Franco ủng hộ Madrid từ trên giường bệnh, Cruyff là ngôi sao trong đội hình Barcelona đè bẹp kình địch này 5-0 ngay trên sân khách. Ở Barcelona, hàng nghìn người đổ ra đường ăn mừng. Một phóng viên của New York Times viết rằng Cruyff đã làm được cho xứ Catalonia trong 90 phút nhiều hơn bất cứ chính trị gia nào trong nhiều thập kỷ. Từ vị trí áp chót bảng xếp hạng trước khi Cruyff tới, Barcelona trải qua 17 trận bất bại và vô địch La Liga mùa đó.


CUỘC CHẠM TRÁN ĐỊNH MỆNH

Năm 1969, ở Santiago Bernabéu, Ajax của Michels gặp AC Milan của Rocco trong trận chung kết Cúp C1 châu Âu. Đó là cuộc đối đầu đỉnh cao giữa thực dụng và nghệ thuật, thụ động và chủ động, và tấn công và phòng ngự.

Danh tiếng của Cruyff khiến nhiều người kêu gọi Rocco thay đổi phong cách thi đấu chỉ cho trận này, nhưng ông tất nhiên từ chối. Trong khi Michels muốn tìm kiếm khoảng trống, Rocco quyết không để đối thủ có điều đó. Ông yêu cầu các hậu vệ của mình kèm người mà họ được phân công “từ phòng thay đồ vào tới toilet”. Milan áp đảo và Cruyff mất hút. Đội bóng Italy thắng 4-1 và catenaccio coi như thắng lượt đi.

Michels sẽ nhanh chóng điều chỉnh. Mùa tiếp theo, ông đưa về Johan Neeskens, một chiến binh thực thụ. Ajax không tìm được khoảng trống ở trận chung kết với AC Milan, nhiệm vụ của Neeskens là tạo ra khoảng trống đó. Mạnh mẽ và thông minh, ông chơi như một tiền vệ bao sân, bẻ gẫy các mối liên kết của đối thủ và hỗ trợ đội nhà khi tấn công. Năm 1971, Ajax đánh bại Panathinaikos và lần đầu vô địch Cúp C1 châu Âu.

Trận chung kết Cúp C1 châu Âu năm 1969 giữa Ajax và Milan, 2 đội đại diện cho 2 trường phái bóng đá tổng lực và catenaccio, là dấu mốc quan trọng trong hành trình tranh đấu mạnh mẽ của 2 trường phái bóng đá đối lập này.

Năm 1972, bóng đá tổng lực lại gặp catenaccio ở chung kết Cúp C1 châu Âu - Ajax đối đầu Inter Milan ở De Kuip tại Rotterdam. Cả hai đội đã thay HLV - Stefan Kovacs ở chỗ của Michels và Giovanni Invernizzi thay Herrera - lối chơi của họ vẫn không khác nhiều. Nhưng kết quả lần này khác. Ajax làm chủ thế trận từ đầu, Cruyff ghi 2 bàn để mang Cúp C1 châu Âu về cho Ajax lần thứ hai.

Suốt những năm 1970, bóng đá tổng lực sẽ trở thành triết lý áp đảo. ĐT Hà Lan, với những Suurbier, Hulshoff, Krol, Swart, Rensenbrink, và 2 chàng Johan sẽ được đặt cho biệt danh “Đồng hồ da cam” và vào chung kết World Cup 2 lần các năm 1974 và 1978.

Mối quan hệ giữa hai phong cách bóng đá này có lẽ có thể mô tả tốt nhất qua kiểu tư duy âm-dương của phương đông, tương kết, tương thuộc và tương liên, mà sự tiến lên một bước của phong cách này sẽ thúc đẩy sự thay đổi của phong cách kia, và cứ thế bóng đá tiến hóa.


Bình luận của bạn

Sử dụng tài khoản Facebook của bạn để thêm bình luận cho bài viết. Tên, hình ảnh và thông tin cá nhân khác của bạn công khai trên Facebook sẽ xuất hiện với bình luận của bạn, và có thể được sử dụng trên nền tảng truyền thông của Báo Bóng đá Cuộc sống!

BÓNG ĐÁ CUỘC SỐNG SPECIAL