Hy Lạp 2004, nhà vô địch không biết… đá bóng
Cẩm Chi

Chia sẻ

Bình luận 0

Phải 12 năm sau danh hiệu kỳ lạ của Đan Mạch, chủ nhân của ngai vàng EURO mới là một cái tên xa lạ, Hy Lạp. Tuy nhiên, khác với Đan Mạch, Hy Lạp thậm chí chẳng có lấy ngôi sao nào đáng kể. 6 trận trên đất Bồ Đào Nha, tổng bàn thắng họ ghi được chỉ là 7. 

Mọi chuyện bắt đầu vào tháng 8/2001. Vassilis Daniil rời nhiệm sở do gần hết vòng loại World Cup 2002, Hy Lạp mới bỏ túi 6 điểm. Văn phòng LĐBĐ nước này (HFF) bắt đầu nhận hồ sơ dự tuyển vào chiếc ghế bị bỏ trống. 

Terry Venables, Javier Clemente và Otto Rehhagel là ba ứng viên lọt vào danh sách cuối cùng. Ngay từ đầu, HFF chẳng mấy hứng thú với vị chiến lược gia người Đức. Lợi thế duy nhất của Rehhagel là mức thù lao vừa phải (nếu không muốn nói là thấp), ước chừng khoảng 500.000 euro/năm. Ông được chọn chỉ đơn giản vì thế.

Bóng đá Hy Lạp từ lâu đã rơi vào tình cảnh suy thoái nặng nề. Trước thời điểm Rehhagel nhận việc, Bộ Kế hoạch đầu tư nước này thông báo mức nợ cộng dồn của 15 CLB hàng đầu quốc gia là 275 triệu euro. Chính phủ thậm chí phải cõng trên vai khoản nợ gần 100 triệu euro không có khả năng thanh toán của AEK Athens, một trong ba đại gia của giải VĐQG Hy Lạp. 

HLV Otto Rehhagel được chọn dẫn dắt ĐT Hy Lạp vì yêu cầu lương của ông là thấp nhất trong các ứng viênHLV Otto Rehhagel được chọn dẫn dắt ĐT Hy Lạp vì yêu cầu lương của ông là thấp nhất trong các ứng viên

Lượng khán giả tới sân mỗi dịp cuối tuần trung bình là 3.200 người/trận, bằng… 1/10 số ghế trên sân. Đến cả trận chung kết Cúp quốc gia năm ấy cũng chỉ đón 1,2 vạn người. Người Hy Lạp sắp cạn tiền, và vì thế họ chọn một HLV chấp nhận thù lao thấp. 

Rehhagel ít tiền là việc của cá nhân ông, còn thành tích của Hy Lạp vẫn phải khá dần lên qua từng trận. HFF đã quán triệt tinh thần ấy từ đầu. Hai bên ký vào bản hợp đồng có thời hạn 3 năm, nhưng kèm theo điều khoản phía HFF có thể đơn phương hủy bỏ sau từng năm mà không mất phí bồi hoàn. 

Nhiệm vụ ấy thật ra nằm ngoài tầm với của Rehhagel. Không phải vì ông bất tài, mà vì Hy Lạp… quá kém. Những lần hiếm hoi Hy Lạp góp mặt ở một giải đấu lớn là EURO 1980 và World Cup 1994. Họ chưa bao giờ thắng lấy một trận, và cũng chẳng thể ghi bất cứ bàn nào. 

Thử hỏi vực dậy một nền bóng đá như thế bằng cách nào? Cũng giống như HFF, động lực duy nhất khiến Rehhagel đánh cược sự nghiệp tại xứ sở thần thoại là bởi, ông đang thất nghiệp. Những bất đồng về chiến lược xây dựng CLB cùng giới chủ ở Kaiserslautern chạm vào lòng tự ái của “King Otto”. Ở tuổi ngoài 60, cơ hội để Rehhagel bước vào những khán phòng lộng lẫy là không nhiều. 

Rốt cuộc thì mối tình gượng ép này cũng tiến tới gian đoạn hôn nhân. Tháng 10/2011, Rehhagel có trận đầu tiên trên cương vị mới. Kết quả thật khó tin: Hy Lạp thua Phần Lan… 1-5. Hội đồng HLV của HFF tổ chức họp khẩn. Rehhagel chỉ mới chân ướt chân ráo bắt tay vào việc nhưng năng lực đã bị hoài nghi. Ông bị gọi vào tham gia điều trần. 

Rehhagel không ưa nói nhiều. Ông bảo tùy, mấy người thích thế nào cũng được. Nhưng trước khi đưa ra một quyết định ảnh hưởng tới vận mệnh quốc gia, hãy xem lại bản lý lịch trích ngang của ông.  Trong đó, Rehhagel bôi đậm một đoạn mô tả về năng lực bản thân. Ông chú thích: “Điểm mạnh: Làm việc với cầu thủ lớn tuổi và biết khai quật tiềm năng của cầu thủ”. Khi Rehhagel tiếp quản di sản của người tiền nhiệm, 11/23 cầu thủ trong đợt triệu tập gần nhất có độ tuổi cao hơn 30. 

Thời đỉnh cao của Rehhagel gắn liền với Werder Bremen. Trong 14 năm liên tiếp ở nhiệm kỳ hai dẫn dắt các nhạc công,  Rehhagel giúp đội 2 lần vô địch Bundesliga, 1 lần vô địch Cúp C2 châu Âu. Nhóm công thần xây nền móng cho thành công toàn những “ông già”. Những hợp đồng tốt nhất của Rehhagel là Bruno Pezzey (28), Mirko Votava & Michael Kutzop (29), Bursmueller (35) và Klaus Fichtel (36). 

“Không có cầu thủ già hay trẻ, chỉ thằng ngu mới chê người lớn tuổi”, Rehhagel nói. Ông cũng là người có công đưa Rudi Voeller ra ánh sáng. Rehhagel quan niệm một cầu thủ chỉ có thể phát huy hết nội lực nếu tính cách thẳng thắn, trái tim rộng mở và cái đầu thông thoáng. 

Rehhagel (giơ cúp) từng thành công với Bremen gồm toàn những ông già trên dưới 30Rehhagel (giơ cúp) từng thành công với Bremen gồm toàn những ông già trên dưới 30

Năm 1982, Rehhagel nhận Voeller vào Bremen. Rất rõ ràng, trong lần đầu tiên tiếp xúc, Voeller bảo thẳng: “Tôi cần tiền, không thể chơi ở giải hạng Nhì nữa”. Rehhagel làm một cuộc điều tra nho nhỏ về anh chàng từng ghi cả 10 bàn cho đội U16 Hanau ở một giải địa phương. 

Rehhagel nhanh chóng nhận ra Voeller không phải kẻ tham lam. “Cậu ta cần tiền vì tiền nuôi sống cậu ta. Bạn có biết rằng, Voeller vẫn đi gội đầu và sửa xe hơi từ năm 14 tuổi chứ?”, Rehhagel giải thích quyết định dung nạp Voeller. Hoàn toàn không dính dáng gì tới mưu cầu tài chính. 

Từ Bremen tới Athens mất 6 giờ bay, nhưng khoảng cách địa lý đó không thể xóa đi những dấu hiệu chung giữa Bremen và Hy Lạp. Nòng cốt của Bremen là những cầu thủ luống tuổi. Hy Lạp cũng vậy. Nếu Rehhagel chọn Voeller vì anh ta cương trực thì ông ưu ái Charisteas vì đây là con người luôn sẵn sàng lắng nghe. 

Thêm một cơ hội cho Rehhagel. Trận hòa 2-2 trước ĐT Anh ở lượt đấu cuối cùng vòng loại World Cup 2002 báo hiệu một tương lai “đỡ” u ám hơn với Hy Lạp. Dù sao thì cầm chân đội nhất bảng cũng đã vượt qua mong đợi. Quan trọng hơn, kết quả ấy giúp Rehhagel kéo dài thời gian tại nhiệm của mình. 

Tới vòng loại EURO 2004, Hy Lạp thua liền 2 trận mở màn. Nhưng hai thất bại đó là cơ hội cho Rehhagel nhìn nhận lại chính xác năng lực và giới hạn phát triển của bóng đá Hy Lạp. Họ đi lèo một mạch tới Lisbon và đánh bại chủ nhà Bồ Đào Nha ở trận chung kết bằng chuỗi 13 trận thắng tới 11, hòa 1 và chỉ thua 1. 

Bây giờ, nếu hỏi Rehhagel vì sao Hy Lạp vô địch, vì sao Hy Lạp viết nên chuyện cổ tích bằng đội hình “cùi bắp” gồm toàn lão già, Rehhagel sẽ trả lời: “Vì chúng tôi không biết đá bóng”. Đó là một tập thể lớn tuổi, chậm chạp, không thể tấn công mềm mại nhưng bền bỉ và dẻo dai. Họ có được tình đoàn kết và nỗi thấu hiểu, cảm thông với đồng đội, điều mà đại đa số các ngôi sao hoặc cầu thủ trẻ không thể làm được. 

Đạt đến cảnh giới ấy, một tình huống treo bóng vu vơ hoặc quả tạt cầu âu cũng là cơ hội ăn bàn. Vì khác với đám đông, Hy Lạp của Rehhagel coi mọi khoảng cách, cự ly là thời cơ chớp mồi. Các tiền đạo sẽ không vờ nhảy lên đánh lạc hướng đối phương cho tuyến hai băng cắt, mà tất cả chọn giải pháp cùng bật cao tăng xác suất bóng rơi trúng đầu. Hy Lạp là thế, chạy cùng chạy, thủ cùng thủ và bật cùng bật.  

ĐT Hy Lạp của Rehhagel cũng gồm toàn những ông già và cầu thủ vô danh đã làm nên câu chuyện thần thoại khi vô địch EURO 2004ĐT Hy Lạp của Rehhagel cũng gồm toàn những ông già và cầu thủ vô danh đã làm nên câu chuyện thần thoại khi vô địch EURO 2004

Hai ngày trước trận chung kết, sau buổi tập cuối giờ chiều, Rehhagel quây ghế thành vòng tròn. Rehhagel ngồi giữa. Ông đề nghị từng người nói ra bức xúc của bản thân. Antonios Nikopolidis và Konstantinos Chalkias, hai thủ môn lần đầu mở lời sau mười mấy ngày liền. Basinas phàn nàn về chính sách đãi ngộ của liên đoàn, Tsiartas bày tỏ nỗi thất vọng vì không được đá chính còn Kapsis hy vọng mọi người đừng hiểu nhầm khi thấy anh và Rehhagel tỏ ra khá thân mật. 

Nói xong, ai nấy đều cảm thấy nhẹ nhõm và khoan thái. “Còn gì không? Nếu hết rồi, về nghỉ và tiếp tục chiến đấu nhé. Bồ Đào Nha có Figo và Deco, còn chúng ta có 11 người”, Rehhagel ra chỉ thị. Chung cuộc, một chương trong lịch sử bóng đá thế giới phải dành chỗ cho Hy Lạp. Họ lên ngôi với tỷ lệ cược đầu giải là 1 ăn 100, bị đánh giá là đội yếu nhất giải. 

Thần thoại Hy Lạp có 12 vị thần, nhưng ĐTQG Hy Lạp phiên bản 2004 có tới 24 vị thần: 23 cầu thủ và Otto Rehhagel.

Chia sẻ

Bình luận 0